Thứ Ba, 25 tháng 12, 2007

Nguyễn Trường Tộ (1828 -1871) [2]

Nhà chính trị kinh bang tế thế
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
(1828 – 1871)
Nguyễn Quý Đại



Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 tại làng Bùi Chu, xã Ðoài, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Thân phụ ông Nguyễn Quốc Thư hành nghề Ðông y sĩ, xuất thân gia đình ảnh hưởng Nho giáo, theo đạo Thiên Chúa Giáo. Lên mười tuổi thân phụ dạy học chữ Hán cho đến năm 14 tuổi theo học tiếp tục với thầy tú Giai ở Bùi Ngoã.

Nguyễn Trường Tộ thông minh xuất chúng năm 1855 được Giám mục xứ Ðoài, người Pháp Gauthier, tên Việt nam là Ngô Gia Hậu, mời dạy chữ Hán cho các Giáo sĩ và ngược lại ông học tiếng Pháp và La Tinh, ảnh hưởng Văn hóa Tây- và Ðông Phương học hỏi các tư tưởng mới lạ, uyên bác sống tích cực, hoạt động có trách nhiệm với Quê hương và một lòng vì Ðạo.

Người Việt vốn sống hiền hoà trọng lễ nghiã, trung dung sinh hoạt về tôn giáo Phật, Lão, Khổng vv..dù khác nhau Tôn giáo nhưng đoàn kết, tín ngưỡng đều được tôn trọng. Các Giáo sĩ người Bồ Ðồ Nha (Portugal) vào Việt Nam truyền giáo vào khỏang năm (1522-1533) cho đến năm 1615, giáo sỉ F. Buzoni (1576-1639) người Tây Ban Nha (Spain) đến Hội An truyền đạo. Trong số nầy hai giáo sĩ Fracesco de Pina và giáo sĩ Alexandre de Rohdes (1593-1660) với sự tiếp tay của người Quảng Nam góp phần sáng chế ra chữ Quốc ngữ. Người Việt đều quý trọng.

Nguyễn Trường Tộ tín đồ Thiên Chúa Giáo, trưởng thành trong giai đoạn lịch sử bị thực dân Pháp chiếm các nước Ðông Dương và Việt Nam. Từ đó triều đình vua quan Việt Nam không thích việc truyền Ðạo. Mặc dù có một số giáo sĩ Thiên Chúa giúp vua Gia Long trong thời gian khôi phục lại sơn hà, đóng góp vào sinh hoạt văn hóa Việt Nam. Ðào tạo lớp người mới Paulus Hùynh Tịnh Cuả, Petrus Trương Vĩnh Ký để lại hơn 100 tác phẩm Văn học biên khảo, có công mang hột giống, cây, hoa qủa lạ như : sầu riêng, măng cụt, mãng cầu, lôm chôm từ Pinang Malaisia về trồng tại miền Nam

Ðổi thay qua nhiều triều đại, từ đời vua Minh Mạng (1820-1840) Tự Ðức (1847-1883), Thiệu Trị (1840-1847) nghi ngờ các giáo sĩ thân Pháp đến truyền giáo tại Việt Nam. Thiên Chúa bị gọi là „ tả đạo “ lúc bấy giờ không phải chỉ riêng Vua mà quan lại, sĩ phu ít người hiểu về giáo lý của Ðạo Thiên Chúa giáo, chỉ thấy việc truyền đạo có nhiều điều trái với Nho giáo và phong tục tập quán

Giáo luật của Tòa thánh La Mã lúc bấy giờ còn qúa cứng trong khuôn khổ khó phù hợp với xã hội Việt Nam? Nguồn gốc người Việt lâu đời trong đạo Thờ cúng ông bà Tổ Tiên, mỗi nhà có bàn thờ tượng trưng như một truyền thống văn hóa của Dân tộc Việt Nam, không ai có quyền cấm đoán. Phật giáo, Nho giáo cũng du nhập từ Trung Hoa, Ấn độ hay Nhật bản nhưng luôn tôn trọng tập tục của người Việt

„ Giáo luật Thiên chúa thời đó ngăn cấm tín đồ thờ cúng tổ tiên, ngày kỵ giỗ tưởng nhớ ông bà hay làm tang lễ cho thân nhân, Giáo dân chỉ xin lễ tại nhà thờ, không được làm lễ tại nhà ? Việc thờ cúng tổ tiên là nền tảng truyền thống tinh thần xã hội và triều đình Việt nam. Nên không thể tránh được những mâu thuẫn.“

„ Kể từ đầu thập niên 60, Cộng đồng Vaticanô 2 Giáo hội Thiên chúa giáo La mã (Roma) mới có những thay đổi để phù hợp với văn hoá các nưóc trên thế giới. Riêng tại Việt nam giáo dân có thể thiết lập bàn thờ và tổ chức cúng kỵ ông bà cha mẹ tại nhà.“

Triều đình ban hành các Dụ cấm đạo, việc làm hơi „vơ đũa cả nắm“ trong giai đoạn cần phải đoàn kết Lương-Giáo cùng nhau bảo vệ độc lập, không phải ai theo Ðạo đều tiếp tay cho giặc. Giết Giáo, dân trục xuất giáo sĩ không khác gì đổ dầu thêm vào lửa. Không thống nhất kế hoạch ổn định nhân tâm, đem lại các giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử. Nhật Bản áp dụng chính sách bế môn năm 1620 vì lo ngại việc truyền đạo vào nước Nhật, nhưng họ sớm canh tân, mở cửa đón nhận văn minh thế giới, đã trở thành một cường quốc. Triều đình Việt nam bế môn toả cảng không bang giao với Tây Phương, bởi vậy không tránh được sai lầm trong chính sách cai trị, vốn từ lâu chiụ ảnh hưởng Trung Hoa. Nước Việt Nam đã gần 100 năm làm thuộc điạ, kéo dài cuộc chiến khổ đau cho dân tộc..

Quốc gia không được canh tân, chọn người đủ tài đức ra giúp nước, không cải cách sửa đổi sai lầm trong việc cai trị, độc tài độc đảng sẽ đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm . Dân chủ là môi trường phát sinh ra những tư tưởng mới, khoa học kỹ thuật phát triển đưa đời sống nhân dân tiến bộ căn bản gồm : dân sinh, dân quyền và dân trí. Các vua thời phong kiến, không tôn trọng ý kiến của Nguyễn Trường Tộ và những người yêu nước khác, để canh tân đất nước. Thế hệ chúng ta sinh sau Nguyễn Trường Tộ hơn một thế kỷ, có thể rút ra được nhựng bài học từ sự kiện lịch sử đó hay không ? Đó là một bài học lịch sử giá trị con cháu chúng ta không thể quên.

Năm 1825 tàu chiến Pháp Theles tới Ðà Nẵng. De Bougainville đem thư vua Pháp xin vào yết kiến, vua Minh Mạng không tiếp, sai đem phẩm vật biếu tặng. Năm 1825, Giáo sĩ Roggerot sang xin giảng đạo, trong lúc vua Minh Mạng cấm đạo (dụ cấm đạo lần thứ 1) Năm 1826, Pháp Hoàng sai Chaigneau sang xin đặt lãnh sự, vua Minh Mạng từ chối

Năm 1833 ra dụ cấm đạo lần thứ 2
Năm 1836 cấm đạo lần thứ 3 từ năm 1834-1838 có 7 Giáo sĩ bị giết
Năm 1838 Vua sai sứ sang Pháp, Hoàng Ðế Louis Philippe không tiếp vì Hội Truyền Giáo quốc tế phản đối những dụ cấm đạo tại Việt Nam.
Năm 1847 đại tá Lapiered sang Việt Nam yêu cầu nhà Vua bỏ lệnh cấm đạo
15-04-1847 chiến tranh bắt đầu, vua Thiệu Trị cho giết giáo dân và giáo sĩ trục xuất người Tây phương.
Tháng 7-1858 Rigault de Genouilly đem liên quân Pháp đánh hạ thành An Hải và Ðiện Hải tại Ðà Nẵng

Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Ðịnh. Vào ngày 01-11-1859, ông Page đến xin vua Tự Ðức ký Hòa ước xin ngoại giao, buôn bán và truyền đạo, nhưng các điều kiện trên đều bị từ chối. Vua Tự Ðức thông minh nhưng nhu nhược, sống đóng khung trong cung, sợ sự chống đối của quan lại, không quyết định được vận mệnh đất nước. Người Pháp lợi dụng việc cấm đạo gây chiến tranh xâm chiếm Việt Nam

Nguyễn Trường Tộ nhờ Ðạo tiến thân, là một công dân Việt Nam tài ba lỗi lạc, nhưng không được triều đình trọng dụng. Khó có cơ hội thăng tiến trong cử nghiệp, có thể lý do ông tham gia khoa thi năm 1848 (canh tý). Năm 1858 ông theo Giám mục Gauthier vào Ðà Nẵng tránh nạn „phân pháp“ đàn áp tôn giáo cấm đạo của Triều đình. Sau đó sang Pháp bằng đường thuỷ, trong thời gian lưu lại Pháp nhìn thấy được văn minh, khoa học kỷ thuật cao .

Ông bỏ nhiều thì giờ đọc sách học hỏi thu thập tinh túy, chọn lọc làm hành trang trở lại quê hương, mong đóng góp được cái hay đẹp, hữu ích xây dựng đất nước. Trên đường trở về ghé Roma tiếp kiến Ðức Giáo Hoàng, sau đó đến Hồng Kông. Về đến Sài Gòn nhiều đổi thay, Gia Ðịnh thành thất thủ tháng 02-1861 bị quân đội Pháp chiếm đóng. Ông được bổ dụng làm thông ngôn tại Sứ phủ Sài Gòn, dịch các văn bản giấy tờ làm gạch nối giữa triều đình và Pháp.

Năm 1961 ông gởi cho triều đình Huế qua đại thần Nguyễn Bá Nghi, văn bản hòa từ đề nghị triều đình nên hoà với Pháp tránh chiến tranh gây khổ đau cho dân tộc

“sự thế hiện nay chỉ có hòa, hòa thì trên có thể thuận ý trời dưới dân, có thể làm cho dân khỏi đau khổ,chấm đứt sự dòm ngó của gian nghịch „

Năm 1862 Ðô đốc Bonard mở rộng cuộc chiến, trước thái độ hung hãn hiếu chiến khát máu. Ông nhìn thấy bất mãn không cộng tác, xin thôi việc tại soái phủ Sài Gòn. Nguyễn Trường Tộ tự khép mình trong bổn phận Ðạo và Ðời, trách nhiệm cao cả người con của Chúa, và người con của dân tộc Việt Nam. Ông phục vụ cho Giáo hội và nghiên cứu viết những điều trần kế tiếp giá trị, để góp ý trong việc xây đựng đất nước, có thể nói Nguyễn Trường Tộ nhà tu, một chính trị gia lỗi lạc. Ông kêu gọi phải chán chỉnh lại học thuật „Học tức học cái chưa biết, biết để mà làm, làm tức là làm những công việc thực tế trong nước và để lãi việc làm hữu dụng đó cho đời sau nữa“. Trước đó Nguyễn Lộ Trạch viết nhiều điều trần, mong đất nước được canh tân, đến ngày nay chúng ta phải ngưỡng mộ, nhưng triều đình bỏ quên trong ngăn tủ nào đó.

Các điều trần dưới xã hội phong kiến, như một ánh sáng lóe lên trong đêm tối của lịch sử, mong muốn triều đình thay đổi cách cai trị, mở rộng ngoại giao, tiếp xúc với Tây phương, bỏ lối học từ chương, ngâm thơ vịnh nguyệt. Nên học hỏi văn minh tiến bộ, gởi du học sinh ra nước ngoài, mong học về khoa học kỹ thuật, hy vọng học xong về nước phát triển về kỷ nghệ, Triều đình luôn giữ chính sách bế môn tỏa cảng. Phan Thanh Giản từng than thở khi đi sứ sang Paris về nói chẳng ai nghe

Từ ngày đi sứ tới Tây-kinh
Thấy việc Âu-châu phải giật mình
Kêu tỉnh đồng-bang mau kíp bước
Hết lời năn-nỉ chẳng ai tin

Nguyễn Trưòng Tộ giống như Phan Thanh Giản viết lên nỗi lòng :

- Khi trong nước cái Ðạo bị diệt, tôi vượt sông lội biển để giữ lấy cái chân lý ở nước người , trước những người quyền quý, tôi luôn nói thận trọng, làm việc nghĩ trước suy sau nhằm giữ thể diện cho nước mình...Tôi tuy là Gíáo, nhưng dòng máu trong tôi vẫn là con Lạc cháu Hồng. Tuy nhà Vua chưa tin tôi, đình thần còn e dè tôi, song ai làm nhục đến các bậc công khanh nước ta, tôi đều biện bác ngay không một chút sợ sệt. (Trang 145 Phan thanh Giản nỗi đau trăm năm) ***

Nguyễn Trường Tộ sinh bất phùng thời, được xem như một thiên tài, kinh bang tế thế, kiến thức vượt qua các quan lại, khoa bảng trong triều đình. Vua trị vì với tính cách cha truyền con nối, nhưng tiếc thay quan lại trong triều không sáng suốt, cương trực để lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng, đem ra bàn cãi, tổ chức phương pháp làm việc. Các quan thích sống ngâm thơ vịnh nguyệt, bảo thủ yên phận, đôi khi tỏ ra ganh ghét đối với Nguyễn Trường Tộ.

Chúa Giêsu từng phán dạy

- nếu các ông mù, thì các ông đã chẳng có tội nhưng vì các ông nói „chúng tôi nhìn thấy được“, nên tội các ông vẫn còn đó. ( Ga 9, 41)

Các Quan lại trong các triều đại Việt Nam không mù, nhưng họ không sáng suốt mở mắt nhìn xa trong việc giúp Vua trị nước, để đưa Dân Tộc Việt Nam khỏi cơn nô lệ !! Nguyễn Trường Tộ viết trong di thảo số 27:

- Phàm kẻ trong thiên hạ là người không phải không có lầm lạc ban đầu, mà là người biết thay đổi hành động, biết sửa điều sai thành đúng đắn, không xấu hổ vì phải sửa đổi cái cũ, mà xấu hổ vì không làm được điều gì mới, không nhìn lui dĩ vãng mà chuyên mưu việc tương lai, không nghĩ đến bảo toàn tên tuổi riêng mình mà lo lợi ích chung cho đất nước, thế mới gọi là trí

Người Pháp muốn ký Hòa ước vì lúc nầy Pháp và Anh đang gặp các chuyện rắc rối bên Trung Hoa nên chính phủ Pháp muốn trì hoãn, để đối phó với Tàu.(1) Phó đề đốc Page tiếp tục việc thương thuyết của Rigault de Genouilly. Nhưng với nội dung không đòi đất, chỉ đòi binh phí, tự do truyền giáo, khai thương ba cửa biển và đặt trú sứ ở Huế (Quân sử tập 3 trang 82) Triều đình có hai phe hòa và chiến. Phe chủ chiến nhiều hơn vì lúc nào cũng tự hào, truyền thống đánh đuổi được ngoại xâm. Nhưng họ quên rằng lối chiến tranh cổ điển, bằng gươm giáo, súng điểu thương, bắn từng phát đạn không còn thích hợp với cuộc chiến tranh mới.

Quân đội Tây Phương được huấn luyện, vũ trang hiện đại với súng đại bác, tàu thủy chạy nhanh trên sông, biển. Nếu so sánh cân bằng, lực lượng quân đội triều đình Việt nam quá lạc hậu và yếu kém. Quân triều đình dù có lòng yêu nước tinh thần chiến đấu cao, không thể đối đầu với đội quân tinh nhuệ của liên quân Tây phương. Ðồn Chí Hòa dưới quyền chỉ huy Kinh Lược Sử Nguyễn Tri Phương, quân số hơn 12.000 quân, không thể chống cự lại với liên quân Pháp, Tây Ban Nha.

Nguyễn Trường Tộ, trong Thiên Hạ Phân Hợp Đại Thế Luận, có cái nhìn xa đối với tình hình thế giới, ông chủ trương nên hoà hơn chiến, lợi dụng kế hòa hoãn để kiện toàn quân đội, canh tân đất nước. Thay đổi chính sách đối ngoại và đối nội, cải cách Văn hoá, Kinh tế, Khoa học, khai mỏ, mở mang dân trí tiến bộ. Khi đất nước Việt nam mạnh phú cường có thể dành lại những gì đã mất.(tùy thời nhi ứng biến) thật là một diệu kế .

- Hàn công nói : biết mà không nói là kẻ bất nhân, nói mà không nói hết là kẻ bất nghiã Thế cho nên tôi ở chốn giang hồ mà lòng gởi lại lăng miếu. Tôi thật không nỡ nhìn thấy nước nhà đổ nát trăm họ lưu ly, cho nên không xét phận hèn mọn mà dám phạm vào lỗi nói ngay thẳng. Nếu cho lời tôi là khi trá hoặc là có ai xuí giục thì xin đem biểu nầy treo ở quốc môn để sau nầy làm chứng. (Ðiều trần thời sự)

Nguyễn Trường Tộ được Vua Tự Ðức mời về Huế tiếp kiến tại nhà Tả Vu, ông đệ trình nhà Vua văn bản khuyên dùng Giám mục, Linh Mục vào việc canh tân đất nước. Vua Tự Ðức đồng ý những điểm trong điều trần của Nguyễn Trường Tộ. Ngày 10-01-1867 cử Nguyễn Trường Tộ cùng Giám mục Gauthier, Lm Nguyễn Ðiều, phó tế Nguyễn Hoàn và Joannes Vị và các Quan triều đình : Nguyễn Tăng Doãn và Trần Hiếu Ðạo đáp tàu L’ orne đến cuối tháng 3 năm ấy đến Paris

Ðến Pháp lần thứ hai có cơ hội đi thăm viếng, tiếp xúc với tính cách ngoại giao. Từ đó ông thấy thêm những việc cần phải làm, đưa đất nước sớm vượt qua cảnh nghèo khổ, lạc hậu và viết điều trần „Tế cấp bát điều“ tập dày giá trị bậc nhất trong các điều trần (tác phẩm ) Nguyễn trường Tộ về văn chương và tư tưởng

1/ Sửa sang võ bị
2/ Hợp tỉnh huyện giảm quan lại
3/ Cải cách tệ lạm để cứu vãn tài chánh
4/ Chỉnh đốn học pháp
5/ Ðiều chỉnh thuế ruộng
6/ Kinh lý bờ cõi
7/ Ðiều tra dân số
8/ Lập Dục anh viện và Tế bần viện

Về nước ngày 29.02.1868 phái bộ đến Huế, tường trình kết quả trong việc ngoại giao Nguyễn trường Tộ và Giám mục Gauthier được ban thưởng nhiều phẩm vật. Trong thời gian trở về quê nhà, giúp xây cất cơ sở nhà Chung xã Ðoài. Tiếp tục viết nhiều điều trần. Triều đình muốn mời Nguyễn Trường Tộ đi với phái đoàn sang Paris xin giảng hòa, thương nghị về 6 tỉnh miền Tây. Bọn thực dân chiếm ngày 24.06.1867, Phan Thanh Giản ngày 04.08.1867 uống thuốc độc tự tử. Ông viết bản điều trần gởi “lục bộ đại thần“ xin bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp, ông nêu lý do sau :

-Xưa nay việc giảng hòa đều ở dưới THÀNH (các trận đánh) chứ không ở Kinh Ðô. Ta trong thế yếu, địch chưa gặp khó khăn ... bây giờ chính lúc triều đình nên tính kế lâu dài, dần dần nuôi dưỡng sức dân, chỉnh đốn võ bị, mở rộng giao thiệp..

Nguyễn Trường Tộ viết nhiều đề tài khác nhau về quốc kế, dân sinh.. khoa học, kinh tế, xã hội. Cải cách về chương trình học đưa ra đề nghị các khoản :

1/ Ðặt khoa nông chính
2/ Ðặt khoa thiên văn địa lý
3/ Ðặt khoa cơ xảo
4/ Ðặt khoa luật pháp

Ðề nghị mở khoa nông chính dạy những môn :

1/ Thiên văn nông nghiệp
2/ Ðịa lý học nông nghiệp
3/ Thực vật học
4/ Ðịa văn khí tượng học
5/ Tổ chức nông nghiệp trong nước

Ngoài ra, về Công nghiệp nước Việt Nam “tiền rừng bạc biển”, đó là những nguồn lợi lớn đem lại lợi ích, phú cường cho đất nước, phải khai thác với phương pháp khoa học cần máy móc hiện đại, đó về khai thác mỏ (khoáng lợi); Hải lợi cá muối ; Lâm sản cây gỗ, Thổ lợi gai, tơ lụa.

Ðiều trần của Nguyễn Trường Tộ, được các quan đại thần như Phan Thanh Giản, Trần Tiến Thành, Nguyễn Bá Nghi ghi nhận. Tường trình về triều đình, tiếc thay triều đình không ứng dụng hết vào việc canh tân đất nước. Ông không thể trình bày hết suy tư, lòng yêu nước trong thời gian còn trẻ, (tháng 7 năm 1864, ông bị tai nạn té gãy vùng xương chậu trong khi trông coi xây cất Giáo đường, từ đó bị tật đi khập khiễng), cho đến lúc bệnh thấp khớp không đi được nằm viết trên giường bệnh trước khi từ gĩa cõi đời, mất 22.11.1871 hưởng thọ 43 tuổi. Ông để lại mấy câu thơ bất hủ.

Nhật mộ tuy vô hồi chiểu xứ
Qui hoa tự hữu hướng dương thần

Tạm dịch

Vừng nhật dù không quay dọi lại
Lòng quỳ vẫn cứ hướng mà theo

Nguyễn trường Tộ ra người thiên cổ trong nước Chúa, nhưng Lịch sử không quên Nguyễn Trường Tộ đã góp công trong việc xây dựng Quê hương, được ca tụng qua những bài thơ sau: (2)

Non sông thiêng sáng đúc nên tài
Những ước ra tâm gíup giống nòi
Lấy đạo nghiã xưa làm mực thước
Ðem khoa học mới để trao đời
Bao phen xuất ngoại lòng nuôi mộng
Mấy độ trần tình lệ nhỏ rơi.
Hôn ám kể chi phường sống tạm
Nghìn thu luống để tiếc thương ai
Á Nam Trần Tuấn Khải

Nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng dành cho Nguyễn Trường Tộ một chổ đứng trong văn học Việt Nam

Vô đoạn vật sắc đáo trần ai
Mãn phúc kinh luân bát điệu tài
Tiền nghịch ngẩu thừa tuyên thất triệu
Hận nhan trường kỉ sính đo ai
Di văn thương hải châu do tại
Kì khí phong thành kiếm vĩnh mai
Thông uất giang sơn kim thị tạc
Tao hồn ứng phục quốc hồn lai

Bản dịch

Bỗng dưng vật sắc đến trần ai
Ðầy bụng kinh luân tám đẩu tài
Tiệc trước tình cờ vua triệu đến
Người sau nhớ mãi chuyện bi ai
Biển xanh ghi lại châu còn đó
Vuì kiếm phong thành có một ai?
Nghẹn uất non sông ngay chính đó
Li tao xua đuối quốc hồn lai

Nguyễn Trường Tộ là một người Việt Nam ưu tú của dân tộc, cống hiến cho Tổ Quốc Việt Nam. Ông đã phục vụ Quê hương, Dân tộc và Phụng Sự Thiên Chúa. Đó là tấm lòng yêu nước vô tư không vụ lợi, không oán trách hận thù. Thương tiếc ông mất sớm, ước mơ của ông không thực hiện được dưới thời quân chủ chuyên chế. Nhưng Nguyễn Trường Tộ thể hiện tinh thẩn của một kẻ sĩ yêu nước, trọn vẹn cho đến hơi thở cuối cùng. Thật là một tấm gương trong sáng, mọi người phải tôn kính và noi gương.


Nguyễn Quý Ðại


1/ chiến cuộc giữa Tây và Tàu chấm dứt hiệp ước Bắc kinh được ký vào ngày 25-10-1890. Ðề đốc Charner, người chỉ huy mặt trận Hòang hải của Pháp, được giữ chức Tổng tư lệnh quân đội Pháp, rảnh tay ở Tàu quyết định đánh chiếm Việt Nam
2/ Tự đìển danh nhân Việt Nam

*** theo tác giả Thanh Ðạm NxB Văn Nghệ viết „ vào khoảng năm 1868, Nguyễn trường Tộ trở về Xã Ðoài giúp xây nhà chung và trong thời gian nầy cưới người yêu Vũ Thị Cam quê Xuân Mỹ , cưới vợ có một người con tên là Nguyễn Trường Cửu „ sđd trang 274
http://khoahoc.net/baivo/nguyenquydai/nguyentruongto.htm

Nguyễn Trường Tộ (1828 -1871)

Sinh năm 1828, ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, trong một gia đình theo đạo Gia tô, nhưng Nguyễn Trường Tộ học thông tứ thư ngũ kinh của Nho giáo. Năm 27 tuổi, ông được giám mục Gauthier đưa vào chủng viện Tân ấp thuộc xứ đạo Xã Đoài để dạy chữ Hán cho giám mục, và được giám mục dạy lại cho chữ Pháp cũng như kiến thức khoa học châu Âu. Năm 1858, giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Pháp để tạo điều kiện học tập, nâng cao kiến thức nhiều mặt. Sinh năm 1828, ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, trong một gia đình theo đạo Gia tô, nhưng Nguyễn Trường Tộ học thông tứ thư ngũ kinh của Nho giáo. Năm 27 tuổi, ông được giám mục Gauthier đưa vào chủng viện Tân ấp thuộc xứ đạo Xã Đoài để dạy chữ Hán cho giám mục, và được giám mục dạy lại cho chữ Pháp cũng như kiến thức khoa học châu Âu. Năm 1858, giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Pháp để tạo điều kiện học tập, nâng cao kiến thức nhiều mặt.

Hơn hai năm ở Paris, chẳng những ông hiểu biết nhiều về khoa học - kỹ thuật, có trình độ như một kiến trúc sư, một người biết khai mỏ, mà còn đọc rộng về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật, v.v... và tìm hiểu được một số hoạt động công nghệ của nước Pháp.Trên đường đi sang Pháp và trở về Việt Nam, Nguyễn Trường Tộ còn có dịp ghé qua Rome, dừng chân ở Singapore và Hongkong.

Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Tổ quốc, phải cập bến Sài Gòn, khi tỉnh thành Gia Định đã bị quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha chiếm đóng.Gần ba năm sống trong lòng địch, Nguyễn Trường Tộ bất đắc dĩ phải làm việc với quân Pháp, phiên dịch các công hàm trao đổi giữa triều đình Huế với Soái thủ Pháp ở Gia Định. Nhiều lần ông sửa bớt chữ nghĩa trong công hàm của đôi bên, tránh những lời lẽ quá khích, xúc phạm tới triều đình hoặc phương hại cho việc "tạm hòa". Nhiều lần ông tìm cách thông báo cho các sứ thần của triều đình như Nguyễn Bá Nghi, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ một số âm mưu quỷ kế của giặc Pháp.

Năm 1863, Nguyễn Trường Tộ tìm cách thoát ra khỏi khu vực chiếm đóng của quân Pháp, liên hệ được với triều đình Huế. Từ đây cho đến cuối đời ông viết hàng loạt điều trần, luận văn, tờ bẩm, trình nhiều kiến nghị có tầm chiến lược nhằm canh tân đất nước, tạo thế vươn lên cho dân tộc để giữ nền độc lập một cách khôn khéo mà vững chắc.

Hơn sáu mươi di thảo của Nguyễn Trường Tộ đã sưu tầm được, bàn về nhiều phương diện:

- Về mặt kinh tế, Nguyễn Trường Tộ vạch ra đường lối làm cho "nước giàu mà dân cũng giàu". Ông khuyên triều đình ra sức mở mang nghề nghiệp, học cách làm ăn của các nước văn minh Tây Âu, tránh bế quan tỏa cảng, mời các công ty kinh doanh nước ngoài đến giúp Việt Nam khai thác tài lợi để có thêm của cải và học cho được kỹ thuật cũng như cách làm ăn tiên tiến của họ. Có như vậy mới giữ được độc lập trong tư thế làm chủ đón khách... (xem Dụ tài tế cấp bẩm từ).

- Về mặt văn hóa - xã hội, Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình tìm mọi cách nâng cao văn hóa đất nước theo hướng coi trọng khoa học - kỹ thuật, để sớm nâng cao đời sống của nhân dân. Ông phê phán tình trạng kinh đô Huế luộm thuộm, mất vệ sinh, công thự dột nát, lương bổng quan lại quá ít ỏi,v.v... Ông nêu hàng loạt vấn đề quan trọng như: nên sáp nhập các tỉnh để giảm bớt số quan lại và có điều kiện tăng lương cho quan lại nhằm giảm tệ tham nhũng, khuyến khích tính liêm khiết; đề nghị sửa đổi chính sách thuế, đánh thuế nhà giàu nặng hơn nhà nghèo, đánh mạnh vào xa xỉ phẩm, mặt khác không nên cấm dân dùng đồ đẹp, đồ sang khiến cho văn vật ngày càng kém, áo xiêm ngày càng tồi; đề nghị sửa đổi chế độ thi cử, chú trọng bồi dưỡng nhân tài về nhiều mặt, thành lập các môn học thực dụng, dùng quốc âm trong công văn thay cho chữ Hán, lập địa đồ quốc gia và các tỉnh, kiểm kê dân số, lập trại tế bần, viện dục anh (nhà trẻ), v.v... (xem Điều trần về cải cách phong tục, Học tập bồi dưỡng nhân tài, Tế cấp bát điếu...).- Về mặt ngoại giao, Nguyễn Trường Tộ phân tích cho triều đình thấy rõ cục diện chính trị trên toàn thế giới, để biết ứng xử một cách linh hoạt (xem Thiên hạ đại thế luận). Ông chỉ ra những mâu thuẫn giữa Pháp với Anh và Tây Ban Nha và khuyên triều đình nên chủ động mở rộng bang giao với nhiều nước, nhất là với nước Anh, để chế ngự bớt tham vọng và khả năng xâm lược của Pháp. Khi nước Pháp có sự biến lớn năm 1870 - 1871, vua Napoléon III mất ngôi, chế độ cộng hòa Pháp phục hồi, Nguyễn Trường Tộ nêu một loạt kiến nghị, hướng dẫn triều đình xúc tiến ngoại giao trực tiếp với Chính phủ Pháp, khéo léo đối phó, ngăn chặn bọn chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Soái phủ Sài Gòn, nhằm tìm cách thu hồi lại sáu tỉnh đã bị chiếm (xem Lục lợi từ và các tờ bẩm cuối năm 1866 đến tháng 2-1871).

- Về mặt quân sự, Nguyễn Trường Tộ tuy là một người "chủ hòa", nhưng không có tư tưởng "chủ hàng" hoặc hòa bình vô nguyên tắc. Năm 1867, ông khuyên triều đình "ra sức cải tu võ bị", đề phòng quân Pháp từ Nam Kỳ đánh lan ra cả nước. Ông là người đầu tiên nêu lên một chính sách quân sự có hệ thống như: trọng võ ngang trọng văn, quý trọng người lính, ưu đãi sĩ quan, biên soạn lý luận binh pháp, đào tạo cán bộ chỉ huy, tạo dựng một quốc thể về mặt binh bị, chuẩn bị điều kiện tác chiến trong thành phố, tìm cách dùng người trong vùng địch chiếm, v.v...Ngoài những bản điều trần và luận văn tạo nên một công trình trí tuệ vĩ đại vô giá, Nguyễn Trường Tộ còn để lại một số hoạt động thực tiễn xuất sắc như: Năm 1862 - 1863, ông thiết kế xây dựng tòa nhà nguyện của dòng tu nữ ở Sài Gòn. Năm 1864 - 1866, ông thiết kế xây dựng bốn ngôi nhà trong giáo khu Xã Đoài. Mấy công trình này của ông thuộc về những công trình kiến trúc đầu tiên theo kiểu châu Âu ở Việt Nam giữa thế kỷ 19. Cũng giữa những năm 60 thế kỷ 19, khi hoạt động ở quê nhà, ông đã giúp Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm đào Kênh Sắt, một công trình xưa kia Cao Biền rồi Hồ Quý Ly dự định làm mà không làm nổi. Ngoài ra, ông còn vận động dân chúng ở Xuân Mỹ, quê hương bên nhà vợ ông, cùng nhau dời làng từ trong núi rừng đầy lam chướng ra nơi thoáng đãng, thuận lợi canh tác.

Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ đã vượt hẳn lên trên tầm thời đại giữa thế kỷ 19 ở Việt Nam. Vua Tự Đức tuy đã có lúc triệu ông "vào kinh để hỏi việc lớn" và phái ông sang Pháp thuê thầy thợ, mua sách vở, máy móc, định du nhập kỹ thuật (năm 1866 - 1867), nhưng nói chung, triều đình nhà Nguyễn cũng như các nho sĩ, văn thân thời ấy chưa hiểu nổi luồng tư tưởng của ông, nên chưa coi trọng đúng mức những kiến nghị cách tân của ông. Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ bị lãng quên như một luồng ánh sáng rọi vào đám sương mù dày đặc.

Ông chết âm thầm ở làng quê Bùi Chu ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức thứ 24, tức 23 tháng 11 năm 1871.

Nguyễn Trung Trực (1838-1868)

Sinh trưởng tại một xóm chài lưới có tên là Xóm Nghề, Bến Lức, Long An. Từ thuở thiếu thời, thường được gọi thân mật là "Cậu Năm Lịch" hoặc "anh chài Lịch" đã ham học võ, lớn lên nổi tiếng là trang thanh niên tuấn tú, võ nghệ cao cường, hào khí hun đúc tâm can, thiên khiếu quân sự thăng hoa phát tiết.

Khởi đầu sự nghiệp, ông tham gia lực lượng kháng chiến của Quản Cơ Trương Công Ðịnh và được sung chức Quản Binh, chỉ huy nghĩa binh hoạt động ở vùng Cần Ðước, Cần Giuộc thuộc Long An. Cũng cần trình bày thêm, vì nhận sự phong quan của triều đình thời vua Tự Ðức, Trương Công Ðịnh nhiều phen đã phải phụng mệnh vua, và theo lệnh triều đình Huế đang trong thời kỳ thương thuyết với người Pháp. Tình thế luẩn quẩn "khi đánh, khi đàm" đã làm suy giảm đáng kể tiềm lực kháng chiến và nhuệ khí nghĩa quân. Trước khi nói về sự nghiệp kháng chiến của vị anh hùng họ Nguyễn, qua hai chiến công lẫy lừng là "Hỏa Nhựt Tảo Thuyền" và "Ðồ Kiên Giang Lũy,".

Trong khí thế chống giặc ngoại xâm của sĩ phu và dân chúng miền Nam, ông Nguyễn Trung Trực đã ráo riết bố trí quân bị, tung ra những trận đánh du kích tại Tân An, vùng đất "mở đường" cho sự nghiệp thiên niên sử xanh của ông về sau.Ðịa bàn hoạt động của lực lượng kháng chiến trong gần ba năm từ 1860 đến 1862 là vùng Tân An, Ðịnh Tường, Biên Hòa. Các địa danh Thủ Thừa, Bến Lức, Bình Trinh, Nhựt Tảo (Tân An); Vũng Gù (Ðịnh Tường ); Tân Uyên, Phước Lý, Long Thành (Biên Hòa) đã khiến tiếng tăm ông lẫy lừng. Trận đánh hỏa công đốt tàu chiến Pháp Espérance trên sông Nhựt Tảo khiến đất trời cũng muốn nổ tung: Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa. Theo một nguồn sử liệu dân gian nhiều người biết khi tả về chiến tích Hỏa Nhựt Tảo Thuyền của ông Nguyễn Trung Trực thì làng Nhật Tảo nằm trên một vùng đồng ruộng bao la, mới sáng tinh sương đã nhìn thấy ánh mặt trời nên được gọi là Nhựt Tảo, nghĩa là "mặt trời mọc sớm".

Giữa thế kỷ thứ 19, Nhựt Tảo là vùng đất mới được ông Hồ Văn Chương đến khai phá lập nghiệp theo chương trình khai hoang của triều Nguyễn. Nhờ quy tụ được đông dân cư lập thành thôn ấp, ông Hồ Văn Chương được triều đình Nguyễn phong cho chức Suất Ðội Trưởng, con cháu kế truyền làm "chủ chợ qua việc thu thuế chợ lấy tiền làm ngân sách địa phương". Dòng dõi họ Hồ thống lãnh cả vùng và đều là hương chức địa phương. Lúc bấy giờ, ông Hồ Quang Minh làm cai Tổng, tuy hợp tác với chính quyền Pháp ngoài mặt nhưng vẫn căm thù giặc. Cảm khái tấm lòng ái quốc của ông Nguyễn Trung Trực, gia đình ông Cai Tổng đã mạnh dạn hợp tác với nghĩa quân, lập kế đồ đánh phá lực lượng quân Pháp. Mục tiêu là chiến thuyền Espérance đóng án ngữ trên sông Vàm Cỏ Ðông thuộc làng Nhựt Tảo, một thủy lộ và một địa điểm vô cùng xung yếu về mặt quân sự. Chiến thuyền Espérance được coi như một "căn cứ nổi" rất lợi hại trên nhiều mặt: đóng vai trò một thành lũy bố phòng; một pháo đài để tấn công và yểm trợ; một phương tiện di động để điều động và vận chuyển binh lính, quân nhu, lại được sử dụng như một đơn vị "dưỡng quân" nữa. Chiến thuyền Espérance đã đóng một vai trò "chiếm đóng" và "bình định" cả một vùng địa phương rộng lớn. Vì tầm quan trọng về mặt chiến thuật, chiến lược như vậy, cho nên bằng mọi giá, lực lượng nghĩa quân phải phá chiến thuyền ấy cho bằng được. Ðể lấy lòng tin của quân Pháp, Cai Tổng Hồ Quang Minh tỏ sự "cúc cung tận tụy" ra mặt, tích cực cộng tác với Pháp. Ðược thuyền trưởng là Trung úy Parfait tin cẩn, một ngày nọ Cai Tổng Hồ Quang Minh cùng Hương Lý Nhựt Tảo đến "bái kiến" trung úy Parfait và "thăm" chiến thuyền. Ông nêu ý kiến, tàu quá lớn và cao, lại thêm bọc sắt, trời miền Nam quá nóng nực, dễ gây bệnh thời khí, nên làm mái lá dừa che cho mát. "Chúa tàu" khen phải, cho thực hiện công tác ngay. Cai Tổng Hồ Quang Minh xin lãnh công tác này và giới thiệu "ông Năm thợ mộc" lên tàu dựng cột, lợp mái. Ông thợ mộc này chính là Nguyễn Trung Trực. Em trai ông Cai Tổng là Hồ Quang Chiêu thì hợp tác cùng ông Nguyễn Trung Trực nghiên cứu kế hoạch và chuẩn bị trận đồ "chiếm và đốt" tàu. Nhờ những ngày đóng vai thợ mộc trên tàu. Ông Năm đã am tường tình hình: quân số, võ khí, cách bố phòng, thói quen của vị thuyền trưởng và các sĩ quan, cũng như giờ giấc đổi "ca" và đi "càn" (tảo thanh) các vùng phụ cận. Bọn quân Pháp rất thích thú với mái nhà lợp bằng lá dừa trên tàu, vừa "ngồ ngộ" lại vừa khỏe người", ban ngày nắng chang chang khỏi phải xuống hầm tàu.

Giờ lịch sử đã điểm, sáng ngày 11 tháng 12 năm 1861 (nhằm tháng 11 năm Tân Dậu), một toán nghĩa quân làm kế nghi binh kéo về Kênh Hóng thuộc xã Bình Lăng, gióng trống khua chiêng để nhử bọn thủy binh Pháp. Viên sĩ quan chỉ huy hôm đó quả mắc mưu, bèn cắt cử một đại bộ binh lính, rời tàu để đi càn quét nghiã quân gây loạn. Vào lúc gần trưa, lính Pháp trên tàu chỉ còn lại một số nhỏ. Phía nghĩa quân được đều động đi phá tàu dưới quyền chỉ huy của ông Nguyễn Trung Trực, cả nam lẫn nữ đi trên hai chiếc ghe giả danh và ngụy trang là "đám cưới quê đi rước dâu". Hai ghe ghé sát tàu xin pẹc-mi (giấy phép) di chuyển sang bên kia địa phương để rước dâu. Ðóng vai chú rể là Nguyễn Trung Trực, trong người thủ sẵn một chiếc búa thầu nặng năm cân ta (khoảng 3 ký lô). Nhơn lúc bất ngờ, ông rút búa nện chết tên lính gác tàu mà "chú rể vừa "múa tay, múa chân" năn nỉ xin giấy đi "cưới vợ". Bọn lính Pháp trở tay không kịp, không thể sử dụng súng để bắn trả nên bị tiêu diệt gần hết. Ông Hồ Quang Chiêu thì đã phục sẵn trên bờ với toán nghĩa quân và dân làng Nhựt Tảo, diệt gần trọn bọn lính Pháp đóng trên vàm đối diện với chiến thuyền đậu thả neo. Vừa chiếm xong tàu, ông Nguyễn Trung Trực hạ lệnh nổi lửa đốt tàu. Có nhiều bà con, gia đình nhà cửa cất gần nơi tàu thả neo đã tháo cả phên, vàch lá làm "mồi lửa" đốt tàu cho mau. Qua chiến công này, tin tức vang dội tới triều đình Huề. Vua Tự Ðức đã mật phong ông chức Ðốc Binh trước khi triều đình ký kết với người Pháp hiệp ước Nhâm Tuất 1862 vào năm sau. Thiết nghĩ, nhơn đây chúng ta cũng nên ghi một điểm son cho gia đình Cai Tổng Hồ Quang Minh.Ngoài ra, vào tháng năm 1862, ông Nguyễn Trung Trực còn ghi thêm một công trận nữa là tấn công và tiêu diệt một đơn vị lính Pháp trú đóng đồn tại Thủ Thừa, tỉnh Tân An. Sau trận Thủ Thừa, ông được thăng chức Thành Thủ Úy Hà Tiên và chiếu truyền ông phải án binh bất động để chờ ký hiệp uớc nghị hòa. Nhưng ông đã không đi nhậm chức, vẫn theo đuổi con đường kháng chiến chống Pháp. Triều đình Huế phải giáng chỉ truyền hai ông Phanh Thanh Giản và Trương Văn Uyển thuyết phục ông thêm. Nhưng rồi ông cũng không nghe theo, quyết giữ lập trường kháng Pháp bằng võ lực.

Chương sử kháng Pháp của sĩ phu miền Nam đầy bi tráng và thật kiêu hùng được tô đậm bằng tên tuổi lẫy lừng của bốn bậc hào kiệt. Trong khoảng thời gian trước sau và nối tiếp nhau -- Trương Công Ðịnh, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương -- ba vị cùng Nguyễn Trung Trực tạo thành ”Tứ Hùng Nam Bộ” tung hoành khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. Sau khi được hung tin vị cận tướng Lâm Quang Ky vì mình mà hy sinh, và mẫu thân bị bọn Pháp cầm cố, ông Nguyễn Trung Trực ruốt thắt, lòng đau vô ngần. Sau nhiều ngày đêm suy tính, lượng định tình thế và thực lực, nhận thấy không nên kéo dài thêm tình trạng tuyệt vọng, ông Nguyễn Trung Trực quyết định ra đầu hàng. Ông triệu tập nghĩa quân lại truyền:

- Các bạn hãy tìm cách phân tán, chờ tin tôi ”chết” sau khi đánh đổi lấy sự phóng thích cho mẹ già; dân hải đảo Phú Quốc vô tội, nghĩa quân Kiên Giang kiên cường. Chừng ấy, giặc Pháp sẽ nới rộng vòng kiềm tỏa là cơ hội tốt để các bạn tùy thời tìm lấy sinh lộ hoặc nuôi lấy ý chí tiếp hành công cuộc đại nghĩa. Ðừng bao giờ các bạn nghĩ tới chuyên buông xuôi kẻ bất cộng đới thiên! Tên tuổi chúng ta mất hay còn, vinh hay nhục đều do tinh thần và hành động của mình định đoạt!

Vừa dứt lời, tất cả nghĩa quân đều khóc, có người quỳ xuống ôm lấy chân ông xin sống chết cùng ông. Ông sai một nghĩa quân lấy dây trói ông lại nhưng không ai can tâm làm việc này. Cuối cùng, ông và một nghĩa quân từ biệt mọi người và ra đi. Trên đường đi, ông bứt vài cọng dây bông súng biển tự trói lấy để ra vẻ người ra đầu thú. Ông ngồi trên một chiếc xuồng nhỏ do người nghĩa quân đi theo chèo tới chiếc tàu Pháp đang đậu ngoài khơi.Pháp dùng tên Huỳnh Công Tấn, vốn quen biết ông Nguyễn Trung Trực khi còn phục vụ trong hàng ngũ nghĩa quân của ông Trương Công Ðịnh. Tấn khuyến dụ, đối đãi ông trọng hậu để mong được ông thực tâm quy thuận tân trào, nhưng ông vẫn một mực giữ khí tiết, chỉ yêu cầu Pháp sớm đem ông ra gia hình. Pháp giải ông về Sài Gòn để thẩm vấn thêm, viên Thiếu tướng hải quân Ohier hết lời dụ dỗ ông nhưng vô hiệu, cuối cùng phải đưa ông về Rạch Giá để xử tử.

Ngày 27/10/1868, nhằm ngày 28 tháng 8 năm Mậu Thìn, Pháp đưa ông ra pháp trường tại chợ Rạch Giá để hành quyết. Ðịa điểm hành quyết ngay tại miếng đất đối diện ”chợ nhà lồng” Rạch Giá, lúc bấy giờ còn cây da cổ thụ.Trên miếng đất thấm máu vị anh hùng, sau đó người Pháp xây lên Nhà Giây Thép, về sau là Ty Bưu Ðiện tỉnh lỵ. Riêng cây da cổ thụ bị đốn đi năm 1947.

Sáng sớm, đồng bào tỉnh nhà đã tề tựu đông đảo để chứng kiến giờ phút vĩnh biệt của người anh hùng. Cảm động nhất là bà con từ Tà Niên -- nơi nổi tiếng về nghề dệt chiếu -- đã mang tới những chiếc chiếu hoa cạp điều chọn lọc để trải một đoạn đường mà người anh hùng dân tộc tiến ra pháp trường để thọ án tử. Quân đao phủ hôm ấy là một người Cao Miên, thường được dân Việt gọi là ”bòn” Tưa, được người Pháp trả công cho mỗi cái đầu chém rụng một quan tiền. Tương truyền rằng trước khi hành quyết, ông được Pháp hỏi cần ân huệ chót gì không thì ông chỉ xin uống một trái dừa tươi. Uống xong, ông ngâm sang sảng một bài thơ tuyệt mệnh sau đây:

Thư kiếm tùng nhung từ thiếu niên
Yêu gian đảm khí hữu long tuyền
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa
Báo hận thâm cừu bất đới thiên.

Rồi đứng lên vén tóc gáy, nghểnh cổ bảo tên đao phủ thủ hãy chém lấy một nhát cho thật mạnh để đầu đứt lìa, lưỡi đao khỏi bị dục dặc. Theo truyền thuyết, khi lưỡi đao hạ thủ, đầu lìa khỏi cổ, nhưng ông vẫn kịp đưa hai tay hứng lấy, đặt lại trên cổ rồi cả thân và đầu mới ngã gục xuống nền đất. Cái đởm khí ấy của ông khiến ai là con người lại không kinh hoàng và cảm phục?

Cử nhân Huỳnh Mẫn Ðạt, người Rạch Giá, nguyên Tuần phủ Hà Tiên, một sĩ phu đứng về hàng ngũ chống xâm lăng lúc bấy giờ, đã khóc vị anh hùng bất khuất bằng bài thơ chữ Hán:

Ðiếu Nguyễn Trung Trực
Thắng phụ nhung trường bất túc luân
Ðồi ba chỉ trụ ức ngư dân
Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần
Nhất đán phi thường tiêu tiết nghĩa
Lưỡng toàn vô úy báo quân thân
Anh hùng cường cảnh phương danh thọ
Tu sát đê đầu vị tử nhân.

Nguyễn Tri Phương (1800-1873)

Là một đại danh thần thời nhà Nguyễn. Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873).

Là một đại danh thần thời nhà Nguyễn. Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873).Thân thế và sự nghiệpÔng tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu là Đồng Xuyên, sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân (1800)[1], quê làng Đường Long (Chí Long) Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn.Năm Quý Mùi 1823, vua Minh Mạng đề bạt ông hàm Điển bộ (Bí thư ở Nội điện), năm sau thăng Tu soạn, rồi Thừa chỉ ở Nội các, hai năm sau thăng Thị độc, Thị giảng học sĩ, năm 1831 thăng Hồng Lô tự khanh.Năm 1832, ông được sung vào phái bộ sang Trung Quốc về việc thương mại. Năm 1835 ông nhận lệnh vua Minh Mạng vào Gia Định cùng Trương Minh Giảng bình định các vùng mới khai hoang. Việc thành công ông được thăng hàm Thị lang.

Năm 1837, ông bị triều thần dèm pha do ông mạnh dạn chống lại những hành động xấu xa của các viên đại thần nên bị giáng xuống làm thơ lại ở bộ Lại. Cuối năm, ông được khôi phục hàm Chủ sự, sung chức Lang trung. Năm sau thăng Thị lang bộ Lễ, năm 1839 thăng hàm Tham tri, làm việc trong Nội các.

Năm Canh Tý 1840, ông được bổ làm Tuần phủ Nam Nghĩa, trông coi bố phòng cửa biển Đà Nẵng. Công việc hoàn thành tốt đẹp, ông được triệu về kinh thăng Tham tri bộ Công, được vua Thiệu Trị cử làm Tổng đốc An Hà (An Giang, Hà Tiên). Tại đây, ông dẹp tan được các toán giặc cướp nước ngoài vào quấy phá. Sau, ông được cải bổ Tổng đốc Long Tường (Vĩnh Long, Định Tường) kiêm Khâm sai quân thứ đại thần, hàm Tòng Hiệp Biện Đại học sĩ rồi được thưởng danh hiệu "An Tây trí dũng tướng".

Năm 1845, ông cùng với Doãn Uẩn đánh bại quân Xiêm La, bình định Cao Miên, ổn định hoàn toàn vùng biên giới Tây nam (miền Tây Nam bộ).

Tháng 5 năm 1847, ông được triệu về kinh, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Công, tước Tráng Liệt tử và được ban một Ngọc bài có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ", được chép công trạng vào bia đá ở Tòa Võ miếu Huế. Sau khi vua Thiệu Trị mất, ông được đình thần tôn làm Phụ chính Đại thần.

Đại đồn Kỳ Hòa, tức Chí HòaNăm Mậu Thân 1848, vua Tự Đức phong tước cho ông là Tráng Liệt bá. Cùng năm đó, thân phụ ông qua đời. Ông xin về cư tang, nhưng vì đang làm Phụ chính nên chỉ được nghỉ một thời gian ngắn phải ra làm việc tại triều đình.

Năm Canh Tuất 1850, vua Tự Đức chuẩn phê cải tên ông là Nguyễn Tri Phương[2]. Từ đó tên Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Sau đó ông được sung chức Khâm sai Tổng thống Quân vụ Đại thần kiêm Tổng đốc các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên. Năm 1853, ông được thăng Điện hàm Đông các Đại học sĩ, rồi lãnh chức Kinh lược sứ Nam Kỳ. Trong thời gian này, ông có công lập được nhiều đồn điền, khai khẩn đất hoang, dân cư ở địa phương được an cư lập nghiệp.

Đánh dẹp giặc cướp trên đất BắcNăm Tự Đức thứ 25 (1870), giặc Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc vẫn đánh phá cướp bóc các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Trong 3 năm trường chúng vẫn uy hiếp các tỉnh này mà quan quân bị đánh thua luôn.Sau khi quan Tổng đốc Phạm Chi Hương bại trận và bị bắt, triều đình đã phái Võ Trọng Bình ra làm Tổng đốc Hà Ninh kiêm Khâm sai Quân thứ đại thần Tuyên-Thái-Lạng. Quan Khâm sai hội với quan Đề đốc Quảng Tây để cùng đánh giặc Ngô Côn vì bọn này quấy phá cả hai bên biên thùy. Vào giữa năm 1869, Ngô Côn đem quân đánh Bắc Nịnh, quan Tiểu phủ Ông Ích Khiêm đánh thắng một trận lớn, phá tan quân giặc và Ngô Côn bị bắn chết.

Ngô Côn chết rồi thì đồng đảng chia làm 3 phe tiếp tục cướp phá các tỉnh mạn ngược của Bắc Viêt: phe Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, phe Cờ Vàng của tướng Hoàng Sùng Anh, phe Cờ Trắng của bọn Bàn Văn Nhị và Lương Văn Lợi.

Quan Trung quân Đoàn Thọ được gửi từ Kinh ra làm Tổng thống quân vụ Bắc Kỳ. Ông liền kéo quân lên Lạng Sơn. Bọn giặc Khách là Tô Tứ thình lình nổi lên nửa đêm vào chiếm thành giết chết Đoàn Thọ. Võ Trọng Bình may chạy thoát được. Triều đình lại sai Hoàng Kế Viêm ra làm Thống đốc quân vụ Lạng-Bình-Ninh-Thái cùng với Tán tương Tôn Thất Thuyết tìm cách dẹp giặc cho yên. Tiếp theo vua lại sai ông Lê Tuấn là Thượng thơ Hình bộ ra làm Khâm sai thị sự để giúp Hoàng Kế Viêm. Rồi Hoàng Kế Viêm giữ mạn Sơn Tây, Lê Tuấn trấn đóng ở Hải Dương. Tuy vậy tình hình vẫn lằng nhằng không giải quyết thanh thỏa được.Vua Tự Đức quá lo lắng không biết làm sao, lại phải vời Nguyễn Tri Phương vào điện mà dụ rằng:

"Khanh vốn sẵn có uy vọng, ai ai cũng biết, khanh cứ ngồi một chỗ mà trù tính mọi việc ở xa, khiến các tướng phấn khởi, bất tất khanh phải đem thân ra chốn chiến trường. Hiện giờ bầy tôi kỳ cựu ở Triều duy còn một mình khanh, mà đình thần thường cứ xin cử khanh đi dẹp giặc ở miền Bắc, Trẫm vẫn không mãi mãi phiền khanh về đường quân-vụ... Nhưng hiện giờ ở chốn biên khổn giặc giã quấy rối đã lâu rồi, Trẫm rất lấy làm lo ngại, mà khanh cũng có lòng muốn đền báo ơn vua nợ nước, thành thử Trẫm buộc lòng phải ủy khanh đi một lần nữa mới xong mọi việc."[cần chú thích]Vua liền chuẩn sung ông làm chức Tam tuyên quân thứ Khâm mạng Đại thần. Ông được phép tùy nghi lo việc đánh dẹp cho yên. Vua ban cho ông kỳ bài, ấn kiếm, cờ mao tiết, nhung y v.v.Vừa đi thì ông đã trù hoạch các mưu kế. Lúc ra đến nơi quân binh được lệnh đi đốn củi, cắt bổi khô, cỏ khô... đem chất chứa quanh các gốc cây gần các đồn giặc. Gặp một đêm có gió lớn thổi theo chiều thuận lợi, ông đốc thúc các đoàn quân đều mang gươm dáo súng ống, nhưng đặc biệt là phải mang theo rất nhiều những chất dẫn hỏa như diêm tiêu, lưu hoàng, thuốc súng. Các cánh quân lẳng lặng bố trí quanh đồn trại giặc, đặt lửa trên gió đốt các đống củi khô. Càng đốt cháy, gió càng thổi mạnh lửa càng lan tràn khắp nơi. Quân ẩn núp bao quanh bắn xả vào giặc. Quân giặc đang ngủ mê nghe lửa mới vùng dậy bỏ chạy tán loạn nên phần bị chết cháy, phần bị bắn, phần bị bắt. Số ít thoát được phải chạy trốn thật xa vào rừng sâu mới thoát thân.Tiếp theo ông còn ra lệnh cho dân các vùng quanh đó không được liên lạc, lui tới mua bán tiếp tế cho giặc. Thế là giặc lại bị tuyệt lương sau khi bị hỏa công đốt.Trong một tháng các tướng giặc vô kế khả thi đều kéo đến trước cửa dinh xin đầu hàng. Cầm đầu bọn này là Lưu Vĩnh Phúc và Phó tướng là Bạch Quế Hương.

Bọn Lưu, Bạch đồng trình với cụ: "Chúng tôi đã trải qua trăm trận, chưa có lần nào bị thua to như vầy. Chúng tôi thấy tướng công trí dũng hơn người, thật tình tâm phục. Nếu tướng công rộng lòng thâu dụng, chúng tôi xin xả thân phục vụ giúp triều đình trong khi hữu sự."Ông dâng sớ xin thâu dùng, vì biết rõ bọn Lưu có tài và quân lính cũng dũng cảm. Vua Tự Đức bằng lòng và ban cho Lưu Vĩnh Phúc chức Đề đốc với nhiệm vụ tuần phòng ở biên cảnh. Từ đó triều đình chẳng những bớt cái họa Cờ Đen, mà Cờ Đen còn giúp chống đánh bọn Cờ Vàng, Cờ Trắng và sau này còn giúp đánh Pháp.

Năm Tự Đức thứ 24 (1871) vua xuống dụ chuẩn cho ông khôi phục nguyên hàm Thái tử Thái bảo Võ hiển điện Đại học sĩ Trí dõng tướng Tráng liệt bá, nhưng vẫn sung Tam tuyên quân thứ Khâm mạng Đại thần.

Mùa đông năm 1872, vua nhân nhớ ông đang ở ngoài Bắc là xứ lạnh lẽo, nên gởi ban cho ông một cái áo ấm vừa dụ rằng: "Áo này là áo ngự dùng mặc mùa lạnh, nay ban cho khanh để tỏ là người có công đức và tăng thêm cho khanh vẻ quân dung."Thống lĩnh quân sự chống PhápQuân Pháp tấn công thành Gia ĐịnhNăm Mậu Ngọ 1858, tàu chiến Pháp đến uy hiếp Đà Nẵng, vua Tự Đức cử ông làm Quân thứ Tổng thống đại thần trực tiếp chỉ huy quân đội chống giặc. Với vũ khí tối tân, Pháp đã uy hiếp và phá hủy một số lớn đồn lũy của Việt Nam, ông bị triều đình giáng cấp nhưng vẫn lưu tại chức. Tuy nhiên, do công cuộc kế hoạch phòng thủ của Nguyễn Tri Phương chu đáo nên quân Pháp không thể tiến lên được.

Quân Pháp tấn công thành Hà NộiNăm 1859, Pháp chuyển hướng đánh thành Gia Định. Thành bị hạ, Hộ đốc thành Gia Định là Võ Duy Ninh tự vẫn. Sau đó, Pháp đã cho phá hủy thành Gia Định[4]. Năm 1860, Nguyễn Tri Phương được sung chức Gia Định quân thứ, Thống đốc quân vụ cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở miền Nam. Do không nắm vững tình hình quân sự và chính trị của Pháp, Nguyễn Tri Phương đã chủ trương xây dựng đại đồn Chí Hòa[5] để bao vây, bức rút quân Pháp. Tuy nhiên, sau vào ngày 25 tháng 10 năm 1861, quân Pháp đã tiến hành công phá đại đồn. Ông chỉ huy quân lính chống cự quyết liệt nhưng rồi bị thương, đại đồn thất thủ, Gia Định lại bị chiếm. Em ruột ông là Nguyễn Duy tử trận, ông bị cách chức xuống làm Tham tri, mãi đến năm sau lại được được hàm Binh bộ Thượng thư, sung Đổng nhung quân vụ Biên Hòa, tập hợp lực lượng để chống sự bành trướng của quân Pháp.

Năm 1862, sau khi triều đình Huế ký hàng ước, mất Nam Kỳ lục tỉnh vào tay Pháp, ông được cử ra Bắc làm Tổng thống Hải An quân vụ, thăng chức Võ Hiển Đại học sĩ, tước Tráng Liệt Bá. Năm Nhâm Thân 1872, lại được điều về giữ chức Tuyên sát đổng sức đại thần, thay mặt triều đình xem xét việc quân sự ở Bắc Kỳ.

Năm 1873, Soái phủ Nam Kỳ phái Francis Garnier đem quân ra uy hiếp ở Hà Nội. Ngày 19 tháng 11 năm 1873, Garnier đánh úp thành Hà Nội. Con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa". Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Đích thân vua Tự Đức tự soạn bài văn tế khóc các vị công thần và cho lập đền thờ ông tại quê nhà.

Đánh giá, nhận xétNăm Tự Đức thứ 24 (1871) vua xuống dụ: "Nguyễn Tri Phương tuổi tác tuy già mà tấm lòng giúp trí chống giặc không già, ấy là trời đã đem Nguyễn Khanh mà cho ta đó."Khen thưởngNăm Canh Tý 1840, Khâm sai quân thứ đại thần, hàm Tòng Hiệp Biện Đại học sĩ rồi được thưởng danh hiệu "An Tây trí dũng tướng".Tháng 5 năm 1847, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, tước Tráng Liệt tử và được ban một Ngọc bài có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ", được chép công trạng vào bia đá ở Tòa Võ miếu Huế.Năm Canh Tuất 1850, vua Tự Đức ban tên Nguyễn Tri Phương, chức Khâm sai Tổng thống Quân vụ Đại thần kiêm Tổng đốc các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên.Năm 1853, thăng Điện hàm Đông các Đại học sĩ.Năm 1862, thăng chức Võ Hiển Đại học sĩ, tước Tráng Liệt Bá.Hàm Thái tử Thái bảo Võ hiển điện Đại học sĩ Trí dõng tướng Tráng liệt bá (1871).

Ngô Sĩ Liên

Nhà sử học Ngô Sĩ Liên

Ngô Sĩ Liên người làng Chúc Lý, huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây). Là sử thần đời Lê, ông đã góp phần công sức chủ yếu trong việc soạn thảo Đại Việt sử ký toàn thư - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam được khắc in vào cuối thế kỷ 17 và còn lại nguyên vẹn cho tới ngày nay.

Theo các tài liệu mới được công bố gần đây, Ngô Sĩ Liên tham gia khởi nghĩa Lam Sơn khá sớm, cùng với Nguyễn Nhữ Soạn (em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi) giữ chức vụ thư ký trong nghĩa quân, nhiều lần được Lê Lợi cử đi giao thiệp với quân Minh trong những thời kỳ đôi bên tạm hòa hoãn để củng cố lực lượng.

Rất đáng tiếc, về năm sinh và năm mất của ông, hiện nay vẫn chưa được biết thật đích xác, nhưng theo Đại Việt lịch triều đăng khoa lục thì ông thọ tới 98 tuổi, đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 đời Lê Thái Tông (1434 - 1442). Đây là khoa thi đầu tiên được triều đình tổ chức lễ xướng danh, yết bảng; các vị tiến sĩ tân khoa được vua ban mũ áo, vào cung dự yến, được ban ngựa quý để đi dạo chơi thăm phố xá kinh kỳ, được "ân tứ vinh quy" với lễ đón rước rất trọng thể. Và sau này, theo lệnh vua Lê Thánh Tông, họ tên lại được khắc vào bia đá, đặt ở Văn Miếu, để "làm gương sáng cho muôn đời".

Sau khi thi đỗ, Ngô Sĩ Liên đã từng giữ các chức Đô ngự sử dưới triều Lê Nhân Tông, Lễ bộ Hữu thị lang, Triều liệt đại phu kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp, kiêm Sử quan tu soạn dưới triều Lê Thánh Tông. Đóng góp to lớn mà Ngô Sĩ Liên còn để lại cho đời sau chính là bộ Đại Việt sử ký toàn thư mà ông đã biên soạn theo lệnh nhà vua và đã hoàn thành vào năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10 đời Lê Thánh Tông, gồm 15 quyển, chia thành hai phần:

Phần một (ngoại kỷ), gồm 5 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến hết thời Bắc thuộc (năm 938). Phần hai (bản kỷ) gồm 10 quyển, chép từ thời Ngô Quyền dựng nước (năm 938) đến khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428).

Bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư cũng do Ngô Sĩ Liên viết, có đoạn nêu rõ: "Trộm nghĩ: may gặp buổi thịnh trị, tự thẹn không chút báo đền, nên không tự nghĩ sức học kém cỏi, lấy hai bộ sách của các bậc tiên hiền làm trước đây, sửa sang lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, gồm một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký toàn thư. Trong bộ sách này, về sự việc, có việc nào trước kia quên sót thì bổ sung vào; về thể lệ có lệ nào chưa thật đúng thì chỉnh lý lại; về văn có chỗ nào chưa ổn thì đổi thay đi; thảng hoặc có việc nào hay việc nào dở có thể làm gương khuyên răn được thì góp thêm ý kiến quê kệch ở dưới... Tuy những lời khen chê ấy chưa có thể làm công luận cho muôn đời về sau nhưng may ra cũng có thể giúp ích phần nào cho việc tra cứu tìm hiểu...". Qua những đoạn trích trên đây cũng có thể thấy được đôi nét tổng quát về quan niệm, bút pháp sử học... của Ngô Sĩ Liên.

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư hiện đang lưu hành, tuy do Ngô Sĩ Liên khởi thảo (hoàn thành vào năm 1479), nhưng đã được các sử thần các đời khác như: Vũ Quỳnh, Lê Tung, Phạm Công Trứ, Lê Hy... hiệu chỉnh bổ sung thêm. Phần đóng góp chủ yếu của tiến sĩ họ Ngô vào bộ quốc sử lớn này là: đặt tên cho bộ sách là Đại Việt sử ký toàn thư, được triều đình và các đời sau chính thức công nhận. Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã dựa vào Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên. Ông viết thêm 1 quyển thuộc Ngoại kỷ, trình bày lại tiến trình lịch sử của Việt Nam từ họ Hồng Bàng cho tới khi quân xâm lược Minh bị đánh đuổi về nước; viết Tam triều bản kỷ, sau này được đưa vào phần Bản kỷ toàn thư và Bản kỷ thực lục; viết bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, biểu dâng sách Đại Việt sử ký toàn thư, phần Phàm lệ Đại Việt sử ký toàn thư; viết những lời bình luận (hiện còn thấy 166 đoạn) có ghi rõ "sử thần Ngô Sĩ Liên viết"... Khác với phần lớn các lời bình của Lê Văn Hưu hoặc Phan Phu Tiên, những đoạn bình luận lịch sử của Ngô Sĩ Liên thường dài hơn, do đó cũng thường cặn kẽ hơn, sinh động hơn; nhiều đoạn có thể coi như lời tổng kết cả một giai đoạn lịch sử. Những dòng ca tụng các bậc trung thần nghĩa sĩ vì nước quên thân; những lời chỉ trích các hành động tham bạo của kẻ gian tà, những lời tố cáo vạch trần những âm mưu quỷ kế của kẻ thù được viết với ngọn bút tài hoa của Ngô Sĩ Liên vốn là người học sâu biết rộng, có ý thức vươn tới sự hoàn thiện như Sử Mã (Sử ký của Tư Mã Thiên), Lâm kinh (Kinh Xuân Thu do Khổng Tử san định), thực sự đã làm cho biết bao thế hệ người đọc đời sau cảm phục sâu sắc.

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một cống hiến to lớn của Ngô Sĩ Liên vào kho tàng văn hóa dân tộc.